Logo
Thành phố Làng quê Làng quê VN
01/10/2026 05:34

Người con gái Việt Nam: Chị Trần Thị Lý và giọt nước mắt của một thi sĩ

Người con gái Việt Nam: Chị Trần Thị Lý và giọt nước mắt của một thi sĩ

9/30/2026 12:00:00 AM | 19

Người con gái Việt Nam: Chị Trần Thị Lý và giọt nước mắt của một thi sĩ

Có những bài thơ ra đời không phải vì người viết tìm được một đề tài, mà vì ông đứng trước một con người và không còn cách nào khác ngoài cầm bút. Năm 1958, Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô tại Hà Nội, có một người phụ nữ hai mươi lăm tuổi nằm trên giường bệnh, nặng hai mươi sáu ký, thân thể chằng chịt thương tích. [Hồ sơ bệnh án ghi: "Trần Thị Nhâm (tức Lý), tuổi 25, quê Miền Nam, cân nặng: 26 kg. Tình trạng bệnh nhân: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục"].

Nhà thơ Tố Hữu đến thăm chị và, theo nhiều tài liệu, đã khóc rất nhiều. Ít lâu sau, ông viết bài thơ Người con gái Việt Nam, đề tặng "chị Trần Thị Lý anh dũng", ghi ngày 7/12/1958 và về sau in trong tập Gió lộng. Tôi muốn kể lại câu chuyện của chị và của bài thơ ấy bằng tất cả lòng kính trọng mà tôi có, và cũng để lên án tội ác mà ngụy quyền Sài Gòn - Tay sai Mỹ đã gây ra cho chị, cho biết bao người con đất Việt.

Để hiểu vì sao người thi sĩ ấy khóc, trước hết phải thấy chị Lý là một người con rất đỗi bình thường của Quảng Nam mà lịch sử đã đẩy đến chỗ không còn bình thường nữa. Chị tên khai sinh là Trần Thị Nhâm, sinh năm 1933 tại Điện Bàn, lớn lên giữa những năm đất nước chia đôi và bước vào hoạt động từ khi còn rất trẻ, làm giao liên trên đường dây cán bộ. Gia đình chị có bảy anh chị em thì năm người đã hy sinh. Đọc con số ấy, tôi chỉ muốn ngồi yên một lúc: Người ta hay nói về mất mát bằng những con số lớn, nhưng có những con số nhỏ thôi mà nặng đến mức ta không dám gọi thành tên.

Điều làm chị khác thường không phải một biến cố duy nhất mà là sự bền bỉ kéo dài qua nhiều năm. Từ 1951 đến 1956, chị hai lần bị Nguỵ quyền bắt và cả hai lần được thả vì không đủ chứng cứ. Tháng 3 năm 1956, chị bị bắt lần thứ ba. Theo lời chị kể trên đài phát thanh năm 1958 và các tài liệu sau này, chị bị giam ở Hội An rồi qua nhiều nhà lao, chịu những cực hình tàn khốc suốt hơn hai năm, đến mức mất khả năng làm mẹ: Bị tra tấn với những hình thức dã man nhất như: Điện giật, dùi đâm, lấy kìm sắt kẹp vào người rứt ra từng mảng thịt, đổ nước xà phòng, dùng dao cắt vú, dùng lửa nung bộ phận sinh dục đến nỗi bị mất khả năng sinh sản... nhưng người phụ nữ trung kiên ấy vẫn không hé răng dù chỉ một lời. 

Việc chị còn sống là một điều hy hữu, và cách chị bị bỏ lại phơi bày trọn vẹn bản chất của những kẻ đã hành hạ chị. Khi chị kiệt sức đến mức họ tin rằng chị không thể sống được nữa, ngụy quyền Sài Gòn - Tay sai Mỹ đã vứt chị ra ngoài nhà lao, không một chút xót thương cho một người phụ nữ họ vừa dày vò suốt hơn hai năm. Thời điểm ấy thì các nguồn không thống nhất: người thân của chị kể là cuối năm 1957, nhiều tài liệu khác ghi tháng 10 hoặc giữa năm 1958. Điều mọi nguồn đều đồng ý là chị đã sống sót, được đồng đội bí mật đón đi, qua Campuchia rồi ra miền Bắc, đến Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô.

Từ lúc chị cất tiếng, nỗi đau riêng của một người trở thành mối bận tâm của nhiều người. Chiều 25/10/1958, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi bản tin về chị Lý; ngày 19/11/1958, đài phát tiếp lời chị gửi Ủy ban Quốc tế, tự kể những gì mình đã trải qua. Theo các tài liệu được lưu lại, câu chuyện ấy vượt ra ngoài biên giới và nhiều đoàn khách quốc tế đã đến thăm chị. Trong bức ảnh còn lại, chị nằm trên giường bệnh, bên cạnh là bó hoa của nhà thơ Liên Xô An-tô Côn-sky. Tôi nhìn bức ảnh ấy rất lâu, vì trong đó có hai loại bàn tay: những bàn tay đã hủy hoại một cơ thể, và những bàn tay mang hoa đến đặt bên một cơ thể đang cố lành lại.

Bài thơ của Tố Hữu có sức nặng vì cách nó đi, và cách đi ấy là điều làm tôi xúc động nhất. Tôi không chép toàn văn bài thơ vào đây vì đây là tác phẩm của Tố Hữu, còn trong thời hạn bản quyền; xin dành chỗ này cho bản in chính thức hoặc bản mà ban biên tập có phép sử dụng.

"Em là ai? Cô gái hay nàng tiên,

Em có tuổi hay không có tuổi.

Mái tóc em đây, là mây hay là suối,

Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông.

Thịt da em hay là sắt là đồng?

Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng.

Em đã sống lại rồi em đã sống!

Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung.

Không giết được em, người con gái anh hùng.

Từ cõi chết, em trở về, chói lọi,

Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi.

Em trở về, người con gái quang vinh,

Cả nước ôm em, khúc ruột của mình”.

Bài thơ mở đầu bằng sự sững sờ chứ không phải bằng lời tuyên bố. Nhà thơ nhìn người phụ nữ trước mặt và hỏi, như không dám chắc đó là người hay là tiên, còn trẻ hay đã sống quá lâu, da thịt là da thịt hay là sắt đồng. Đó là câu hỏi của một người chưa biết trước mình sẽ nói gì, và bài thơ để cho ta thấy trọn vẹn cái bối rối ấy.

Rồi cái ác được gọi tên trong một câu thơ ngắn và lạnh, và bị khép lại bằng một lời phủ định: không thể giết được em. Tôi đọc câu ấy mà như nghe một cánh cửa đóng sầm lại trước sự tàn bạo. Từ đó bài thơ mới mở ra chiều ấm áp của nó. Trái tim chị còn đập, và nhà thơ nói nó đập không riêng cho chị mà cho lẽ phải, cho quê hương, cho loài người. Cả nước quây quanh giường bệnh, hát cho chị nghe như tiếng mẹ ru, có cả dòng sông quê chị trong tiếng hát ấy. Ông xin được hôn đôi bàn chân lạnh ngắt của chị, được nâng đôi bàn tay chị đang nắm chặt, những cử chỉ nhỏ của một người biết mình đang đứng trước điều thiêng liêng. Bài thơ khép lại bằng con đường phía trước, thênh thang, nơi một cô gái sẽ đứng lên bằng đôi chân tuổi trẻ, và bằng một lời gọi tên: Hỡi em, người con gái Việt Nam.

Nhớ chị Lý đòi hỏi nhiều hơn việc thuộc bài thơ. Tôi đã tìm hiểu xem bài thơ đang ở đâu trong đời sống nhà trường. Theo một số nguồn, nó từng được đưa vào sách giáo khoa, và đến nay vẫn xuất hiện trong nhiều đề đọc hiểu môn Ngữ văn. Vì vậy câu hỏi đáng đặt ra có lẽ không phải bài thơ có nằm trong sách hay không, mà là học trò khi đọc có thấy sau chữ "em" ấy là một con người có thật hay không. Một em học sinh có thể trả lời đúng về biện pháp tu từ và thể thơ mà chưa biết rằng người phụ nữ ấy từng nặng hai mươi sáu ký, từng có năm người thân hy sinh, và đã sống sót để tự mình lên tiếng. Bài thơ chỉ thật sự sống khi người đọc biết mình đang đọc về ai.

Nhớ chị Lý cũng là lên án, và lên án ở đây là một bổn phận với ký ức chứ không phải một sự trả thù. Những cực hình chị phải chịu là tội ác của ngụy quyền Sài Gòn tay sai Mỹ, và tội ác thì phải được gọi đúng tên, không thể để thời gian làm nhạt đi hay để ai đó bóp méo. Gọi đúng tên tội ác là để hôm nay còn biết mình đang có gì, và để không bao giờ có người Việt nào phải chịu điều tương tự trên chính đất Việt. Đó cũng là điều bốn chữ Trọng Đức nhắc ta: Trân trọng người biết giữ mình trước cực hình, và không làm ngơ trước cái ác đã đẩy con người ta đến đó.

Người thi sĩ năm 1958 không cứu được thân thể chị, và ông hẳn biết vậy, nhưng ông đã làm được một việc nhỏ hơn mà bền hơn. Ông gọi tên chị, và để cho cả một dân tộc đứng quanh chiếc giường bệnh ấy mà khóc cùng. Chị Lý mất ngày 20/11/1992 tại Đà Nẵng, thọ 59 tuổi, và đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Gần bảy mươi năm sau, chúng ta không thể trở lại căn phòng ấy, nhưng vẫn có thể làm điều ông đã làm: Đọc chậm lại, nhớ cho đúng, và kể cho con cháu nghe bằng cả lòng thương, để người con gái ấy không chỉ còn là một cái tên trong sách.

Ngày 21-11-1958, 5 đồng chí bộ đội Liên khu 5 viết kiến nghị và được 2.000 đại biểu ký gửi đến Ủy ban Quốc tế phản đối sự dã man của chính quyền ngụy Sài Gòn đối với Trần Thị Lý. Từ ngày 11 đến 21-11-1958, 39 đoàn khách quốc tế đến thăm chị Lý và 62 đoàn tiếp tục đăng ký vào thăm. Đài Phát thanh Hà Nội cũng phát đi lời của ông Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt–Anh rằng: “Tôi đã từng chứng kiến tội ác của bọn thực dân đối với nhân dân thuộc địa song tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam nỡ đối xử với người Việt Nam tàn tệ như thế...."

Ảnh: Anh hùng LLVTND Trần Thị Lý trên giường bệnh với bó hoa của thi sĩ Liên Xô An-tô Côn-sky.

 

Ảnh: Cầu Trần Thị Lý - Tên người AHLLVTND, người con trung kiên ưu tú của vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng anh hùng.